Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới nâng tầm bứt phá của tỉnh Quảng Ninh
TS QUẢN MINH CƯỜNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước những thời cơ, vận hội mới, đồng thời đi liền với những thách thức, xoay chuyển mang tính thời đại trong mục tiêu chuyển đổi phương thức phát triển mới. Trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển nhanh, bền vững và quyết tâm phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững, tỉnh đã định vị khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải giữ vai trò động lực chủ yếu, nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả quản trị và mở rộng không gian phát triển mới.
Kiến tạo thể chế cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định là đột phá quan trọng. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang là tất yếu quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(1). Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định lấy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính cho phát triển của cả nhiệm kỳ và coi đây là chìa khóa tạo bứt phá về năng suất, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch hành động số 42-KH/TU, ngày 10-3-2026, coi đây là kim chỉ nam, cụ thể hóa các chủ trương thành những nhiệm vụ thiết thực, phát huy những lợi thế sẵn có của tỉnh, gắn liền với mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, để cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch hành động số 42-KH/TU của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành đồng thời bộ 3 chiến lược: Chiến lược phát triển dữ liệu, Chiến lược chuyển đổi số và Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, ưu tiên thực hiện đến năm 2030. Tỉnh chủ động rà soát, đăng ký và công bố 22 bài toán lớn để chuyển từ cách tiếp cận nhiệm vụ khoa học, công nghệ nhỏ, lẻ, sang cách tiếp cận theo “bài toán phát triển” gắn với nhu cầu thực tiễn của địa phương. Đến nay, tỉnh đã hoàn thành được 3 lớp nền tảng là: nền tảng thể chế, nền tảng kiến trúc số và nền tảng dữ liệu.

Đồng chí Quản Minh Cường, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh và đoàn công tác thăm, kiểm tra tại Công ty cổ phần gạch Clinker Viglacera, phường Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh.
Đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho tăng trưởng
Trong giai đoạn 2020 - 2025, tỉnh Quảng Ninh đã chi hơn 2.300 tỷ đồng cho hoạt động khoa học, công nghệ. Riêng năm 2025, tỉnh tiếp tục đầu tư khoảng 185 tỷ đồng triển khai 45 nhiệm vụ trọng tâm và 14 dự án chuyển đổi số với tổng vốn hơn 125,8 tỷ đồng (ngân sách tỉnh chi khoảng 63,2 tỷ đồng) cho đổi mới sáng tạo, thể hiện rõ cam kết ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ đã thể hiện rõ trên nhiều lĩnh vực.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện hơn 100 nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp tỉnh về quản lý môi trường, bảo tồn giá trị di sản văn hóa, nông nghiệp công nghệ cao,… với hơn 90% kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn. Năm 2026, tỉnh dành trên 3% chi ngân sách (ít nhất là 1.439 tỷ đồng) để triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết về cơ chế, chính sách tài chính hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; đang chỉ đạo ban hành cơ chế hợp tác công tư, cơ chế đặc thù mô hình khu kinh tế số và tri thức tự do tỉnh Quảng Ninh. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh. Tính đến tháng 6-2026, Quảng Ninh đã có 35 doanh nghiệp khoa học, công nghệ, nằm trong nhóm các tỉnh, thành có nhiều doanh nghiệp khoa học, công nghệ toàn quốc.
Tỉnh hiện có khoảng 8.000 trí thức khoa học, công nghệ, tương ứng 13 cán bộ nghiên cứu/vạn dân, cùng nhiều chính sách thu hút, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Hạ tầng khoa học, công nghệ được chú trọng đầu tư, từ hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, các phòng thí nghiệm đạt chuẩn LAS, VILAS. Tỉnh Quảng Ninh đã và đang từng bước xây dựng chính quyền số gắn với nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; thúc đẩy xã hội số toàn diện trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, giao thông... Tỉnh cũng chủ động thu hút nhiều dự án công nghệ cao, hợp tác với các tập đoàn lớn trong nước và quốc tế, tổ chức các diễn đàn, hội nghị xúc tiến đầu tư chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đã thu hút được một số nhà đầu tư, tập đoàn lớn, thương hiệu toàn cầu, trình độ quản trị hiện đại tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao với tổng số vốn 2,01 tỷ USD (tương đương trên 52.000 tỷ đồng).
Những kết quả trên đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phản ánh chất lượng tăng trưởng và từng bước chuyển dịch mô hình phát triển dựa vào năng suất và công nghệ, nâng cao các chỉ số: Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) năm 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá, tỉnh Quảng Ninh xếp thứ 3 (sau thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh); tỷ lệ đóng góp chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP duy trì xu hướng tăng liên tiếp. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao năm 2025 đạt gần 50%; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 19%. Tỷ trọng tăng thêm của kinh tế số trong GRDP tỉnh Quảng Ninh đạt 7,73% năm 2025, 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,3% GRDP. Quảng Ninh đã và đang vươn lên trở thành một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc đổi mới sáng tạo của vùng đồng bằng Bắc Bộ, một cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc.
Một số quan điểm và định hướng, giải pháp chiến lược
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, song tỉnh Quảng Ninh cũng gặp một số hạn chế, bất cập cần tháo gỡ.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng của tỉnh chưa chuyển dịch đủ mạnh sang khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các lợi thế không gian kinh tế biển, kinh tế biên giới, kinh tế đô thị mới đang bắt đầu thúc đẩy để tổ chức thành chuỗi giá trị tích hợp.
Thứ hai, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Tỉnh còn thiếu các chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân công nghệ và quản trị lao động kỹ thuật cao; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đang ở bước đầu hình thành.
Thứ ba, mức độ ứng dụng công nghệ trong một số doanh nghiệp còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều. Liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước - cơ sở nghiên cứu - đào tạo trong chuỗi giá trị còn hạn chế nên hiệu quả tăng trưởng chưa cao. Nhiều doanh nghiệp nội địa quy mô nhỏ, năng lực công nghệ chưa đủ mạnh nên chưa hình thành được nhiều động lực tăng trưởng dựa trên năng suất.
Thứ tư, một số cơ chế về đất đai, đầu tư, tài chính, khoa học, công nghệ, khu kinh tế chưa tạo ra không gian thử nghiệm và bứt phá. Khát vọng và chuẩn mực phát triển hiện tại chủ yếu so sánh với tiêu chuẩn trong nước, chưa vươn tới các thước đo của khu vực và quốc tế.
Thứ năm, tỉnh Quảng Ninh thuộc nhóm dẫn đầu cả nước với năng lực dẫn dắt và lan tỏa; yêu cầu đặt ra là tỉnh phải tiếp tục chủ động thí điểm, tiên phong trong các lĩnh vực chiến lược, làm giàu triết lý phát triển của tỉnh, đồng thời đóng góp cho việc hoàn thiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.
Sau nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao và liên tục đổi mới mô hình phát triển, tỉnh Quảng Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ với mục tiêu xây dựng mô hình tăng trưởng mới theo hướng nhanh, bền vững và hiện đại; không thể duy trì tốc độ tăng trưởng “hai con số” bền vững nếu tiếp tục dựa vào các động lực tăng trưởng “cũ”, chủ yếu dựa vào tài nguyên hữu hạn. Đổi mới mô hình tăng trưởng của tỉnh Quảng Ninh từ “dựa vào tài nguyên, thiên nhiên” sang “dựa vào tri thức, khoa học, công nghệ, năng suất lao động tăng lên nhờ đổi mới sáng tạo” là con đường tất yếu, lựa chọn mang tính chiến lược và sống còn. Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò dẫn dắt, tỉnh mới có thể giải quyết được bài toán mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp nặng mang tính truyền thống với yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch, dịch vụ đẳng cấp quốc tế. Sự biến động của kinh tế toàn cầu, yêu cầu chuyển dịch xanh, cam kết giảm phát thải và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa là áp lực, vừa là đòi hỏi cấp bách buộc tỉnh Quảng Ninh không thể chậm trễ trong việc tái cấu trúc nền kinh tế.
Theo định hướng của tỉnh, mô hình tăng trưởng mới của Quảng Ninh giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn 2050 dựa trên “3 cực - 4 chuyển đổi - 5 động lực”, trong đó, tổ chức lại không gian tăng trưởng theo 3 cực động lực, tạo thế đa trụ - lan tỏa - bổ trợ lẫn nhau: Vân Đồn - cực kinh tế biển và dịch vụ cao cấp; Móng Cái - cực thương mại biên giới, đô thị kinh tế cửa khẩu và hội nhập quốc tế; Quảng Yên - cực công nghiệp và logistics. Thực hiện 4 chuyển đổi nền tảng: chuyển dịch cơ cấu các ngành và lĩnh vực; chuyển đổi về khoa học, công nghệ; chuyển đổi về không gian phát triển theo hướng phát triển các cực tăng trưởng và tăng cường liên kết, lan tỏa; chuyển đổi về thể chế, quản trị địa phương theo hướng hiện đại. Mô hình tăng trưởng được thúc đẩy bởi 5 động lực chủ đạo, gồm: Thể chế - cơ chế đặc thù; hạ tầng chiến lược; huy động và dẫn dắt nguồn lực; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; không gian và hệ sinh thái phát triển. Quan điểm của tỉnh Quảng Ninh trong mô hình tăng trưởng mới là tăng trưởng kinh tế phải gắn với thụ hưởng của người dân, với phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế, việc làm và an sinh. Tỉnh đặt mục tiêu phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế dữ liệu, xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, thúc đẩy các mô hình kinh doanh trên nền tảng số. Đồng thời, tỉnh định hướng hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho cả vùng.
Có thể thấy, mô hình tăng trưởng mới mà tỉnh Quảng Ninh đang xây dựng không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, mà còn tạo nền tảng phát triển dài hạn, bền vững và hiện đại. Trong hành trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là trụ cột chiến lược quan trọng để tỉnh tiếp tục bứt phá. Để đạt tăng trưởng GRDP từ 13% trở lên, tỉnh đã và đang chủ động khơi thông các động lực phát triển mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng, gắn với mở rộng không gian phát triển và thu hút đầu tư. Ngày 8-6-2026, tỉnh phê duyệt Đề án “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030”. Đây là bước đi chiến lược của tỉnh nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đánh dấu bước chuyển từ phát triển khoa học, công nghệ theo chiều rộng sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vận hành theo cơ chế thị trường, qua đó quyết định khả năng chuyển hóa các ý tưởng sáng tạo, kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ thành nguồn lực phát triển thực chất cho nền kinh tế địa phương.

Sản xuất tại Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng tại Khu công nghiệp Việt Hưng, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Tư liệu
Những kết quả tích cực đạt được cho thấy các chủ trương, giải pháp của tỉnh đang phát huy hiệu quả, tạo đà để Quảng Ninh tiếp tục tăng tốc, khẳng định vai trò cực tăng trưởng toàn diện, năng động của khu vực phía Bắc và cả nước. Để góp phần thực hiện thành công mục tiêu đề ra, tỉnh tiếp tục tập trung huy động mọi nguồn lực, nâng cao tiềm lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo có trọng tâm, trọng điểm, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Một là, xác định khoa học, công nghệ phải thực sự đi trước một bước, giữ vai trò dẫn dắt, tạo tri thức và định hướng phát triển; lấy khoa học làm động lực, công nghệ làm nền tảng, con người là trung tâm, chủ thể và yếu tố quyết định; tập trung giải quyết những yêu cầu cơ bản và các vấn đề lớn, có tính chiến lược, dài hạn của tỉnh; gắn kết giữa nghiên cứu, ứng dụng và yêu cầu thực tiễn, chủ động thích ứng theo từng giai đoạn, tạo ra các sản phẩm, mô hình, kết quả cụ thể, có giá trị thực chất và khả năng ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra thành tựu và đóng góp thiết thực cho phát triển. Đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý, tư duy điều hành theo hướng lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm công cụ và hiệu quả thực tiễn làm thước đo; khắc phục tình trạng triển khai hình thức, phân tán, thiếu liên thông, thiếu tính ứng dụng thực tế; nâng cao chất lượng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chủ động định hướng tư duy mới, cách làm mới, mô hình mới, tạo động lực và truyền cảm hứng đổi mới trong toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.
Hai là, xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và hấp dẫn để thu hút đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, đề xuất, bổ sung các chính sách hiện có, đặc biệt là các chính sách về thuế, tín dụng, đất đai và hỗ trợ tài chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp khoa học, công nghệ, các dự án đổi mới sáng tạo và các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Nghiên cứu và triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới, đặc biệt trong lĩnh vực ưu tiên như kinh tế số, năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến đăng ký, chứng nhận và hỗ trợ doanh nghiệp khoa học, công nghệ nhằm giảm thiểu chi phí và thời gian cho doanh nghiệp.
Ba là, triển khai hiệu quả Chiến lược chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026 - 2030, Chiến lược dữ liệu của tỉnh; đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nền tảng số dùng chung; xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số đồng bộ, liên thông, an toàn, bảo mật, bảo đảm dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, cục bộ theo ngành, lĩnh vực; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cập nhật, quản trị, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu. Tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, dự án phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được giao tại các chương trình, kế hoạch của Trung ương và của tỉnh; chủ động rà soát tiến độ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, tránh đầu tư phân tán, chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án trọng điểm, nhất là Khu công nghệ số tập trung tại phường Tuần Châu, bảo đảm hoàn thành trong năm 2026.
Bố trí nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa; tổ chức các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Triển khai hiệu quả chương trình hợp tác của tỉnh với các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn như Viettel, VNPT, MobiFone, FPT,… nhằm huy động tối đa nguồn lực cho phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh. Khai thác, sử dụng hiệu quả, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và các công nghệ mới trong quản lý nhà nước, phát triển đô thị thông minh, du lịch thông minh, logistics, kinh tế biển, cửa khẩu thông minh và các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Bốn là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; khuyến khích mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ; lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo, người dân là chủ thể thụ hưởng. Khuyến khích tư duy đổi mới, dũng cảm nghiên cứu, tiếp cận các lĩnh vực mới, công nghệ mới, mô hình mới; tạo điều kiện để đông đảo các lực lượng trong xã hội cùng tham gia phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước; lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế chiến lược của tỉnh để tạo đột phá, phấn đấu đạt trình độ tiên tiến, dẫn đầu ở một số lĩnh vực thế mạnh.
Năm là, quan tâm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới và chuyển đổi số; xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực chuyên môn sâu, năng lực số, khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và thích ứng với mô hình quản trị hiện đại. Tạo môi trường thuận lợi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; khơi dậy khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua khó khăn, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì mục tiêu phát triển chung, có niềm say mê nghiên cứu, khát vọng cống hiến, niềm tin vào khoa học, công nghệ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là các kỹ năng số, an toàn thông tin, quản trị, phân tích, xử lý công việc trên môi trường số để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, đánh giá khoa học, khách quan, kịp thời biểu dương, tôn vinh các sáng kiến, mô hình, cách làm hiệu quả trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ sáu, kiến tạo các không gian tăng trưởng mới. Đề nghị Trung ương cho phép thí điểm cơ chế phát triển Đặc khu kinh tế thế hệ mới Vân Đồn và thành lập Khu kinh tế số gắn với đô thị sáng tạo (quy mô khoảng 30.000 ha) với các trụ cột: Công nghệ số tập trung, Trung tâm AI, Trung tâm dữ liệu dự phòng châu Á và Khu đô thị giáo dục. Trên cơ sở đó, ưu tiên thực hiện các dự án công nghệ chiến lược: Thử nghiệm kinh tế không gian tầm thấp: Sử dụng máy bay không người lái (Drone), Máy bay cất cánh và hạ cánh thẳng đứng bằng điện (eVTOL) cho du lịch, y tế, cứu hộ. Nền tảng cho dự án này là hạ tầng số hiện đại của tỉnh Quảng Ninh với tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 94% dân số (vượt xa mức bình quân 39,5% của cả nước, tính đến tháng 10-2025), không còn vùng lõm sóng và 100% (54/54) đơn vị hành chính cấp xã, phường đã kết nối truyền số liệu chuyên dùng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong kinh tế di sản: số hóa di sản, xây dựng nền tảng hồ dữ liệu (Data Lake), sử dụng AI thị giác máy tính và công nghệ phục dựng thực tế tăng cường (AR/VR).
Hành trình đổi mới mô hình tăng trưởng, phấn đấu duy trì tốc độ phát triển hai con số dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh Quảng Ninh là một cuộc cách mạng mạnh mẽ, toàn diện về tư duy và hành động, đòi hỏi các bước triển khai, thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị, từ sự lãnh đạo sâu sát của cấp ủy đến sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền các cấp và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, người dân. Phát huy truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết tâm tận dụng tối đa mọi vận hội thời đại, vượt qua các thách thức mang tính lịch sử, đưa khoa học, công nghệ và năng lực số trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ nhất, như phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh: Quảng Ninh sẽ tiếp tục đi đầu trong hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng, giữ vững vị thế địa phương phát triển hàng đầu, từng bước trở thành hình mẫu phát triển xanh, hiện đại, sáng tạo và hội nhập quốc tế. Qua đó, đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp phát triển đất nước, xứng đáng với niềm tin của Trung ương và nhân dân cả nước (2)./.
---------------------
(1) Xem: Toàn văn: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm
(2) Xem: Thu Chung - Đỗ Phương - Minh Hà: “Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”, Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 27-1-2026, https://baoquangninh.vn/tong-bi-thu-to-lam-lam-viec-voi-ban-chap-hanh-dang-bo-tinh-quang-ninh-3394267.html
Tin tức khác
- PHƯỜNG UÔNG BÍ TIẾP SÓNG TRỰC TIẾP CHƯƠNG TRÌNH NGHỆ THUẬT ĐẶC BIỆT "MÃI MÃI TUỔI 20"
- Quảng Ninh phấn đấu trở thành thành phố vào tháng 8
- Phường Uông Bí dự trực tuyến khóa đào tạo “Trí tuệ nhân tạo: Từ dữ liệu đến quyết định”
- Cấm đường phục vụ chương trình nghệ thuật “Mãi mãi tuổi 20”
- Thông báo về việc tìm kiếm, xác minh và trao trả hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B
- LỊCH TỔ CHỨC KHÁM, CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG UÔNG BÍ
- Hành trình tìm lại tên cho những người anh hùng
- Đồng chí Nguyễn Văn Thành, Ủy viên BTV Đảng ủy, Phó Chủ tịch HĐND phường thăm, tặng quà thương binh, bệnh binh, người có công tiêu biểu nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026)
- Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh sẽ được xây dựng tại phường Uông Bí quy mô hơn 4ha
- Công đoàn phường Uông Bí và các Công đoàn cơ sở trên địa bàn thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Hoàng Thị Nghi
- Rộn ràng không khí lao động trên các công trường xây dựng
- Công an phường Uông Bí sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026